Người trông coi ngọn lửa Dzá Hai

Thứ bảy 27/01/2018 07:00

Có một hôm, đang xem tivi, tình cờ tôi thấy hình ảnh ông Vương Hùng xuất hiện trên màn hình. Ông ấy nói về văn hóa của người Tày, Nùng. Sau lưng ông là những dãy núi mờ xanh của miền đất phên dậu Cao Bằng. Cảnh đấy đã khiến tôi bần thần, nhớ lại mấy mươi năm trở về trước.

Người dân Thông Huề (Trùng Khánh) hát Dzá Hai tại Lễ hội Long Vương.
Thời bấy giờ, tôi là cán bộ dưới quyền, ông Vương Hùng giữ chức Phó Ty Văn hóa Thông tin tỉnh. Tôi đã trót gọi ông Vương Hùng bằng chú, xưng cháu. Ngay từ ngày tôi chuyển ngành về Ty Văn hóa làm việc. Thực ra, tôi chỉ bằng tuổi người em út của ông. Nhưng ngày ấy, tôi thấy ông đạo mạo trong bộ đại cán thu đông, ngồi chễm trệ trên chiếc xe commăngca đít vuông. Đi tới đâu, cũng có một đoàn cán bộ nhúc nhắc ôm cặp, theo sau lưng ông. 
Ông Vương Hùng, khi đó đã là một nhà biên kịch khá nổi tiếng. Nhiều vở diễn của ông đoạt giải thưởng cao tại các kỳ liên hoan sân khấu kịch nói và ca kịch toàn quốc. Nếu không nhầm, có lẽ ông là một trong những người đầu tiên đem tuồng Dzá Hai lên sân khấu kịch hát hiện đại. Dzá Hai là một loại kịch tuồng, có xuất xứ từ phương Bắc, hát bằng tiếng Quảng, nhưng đã được người dân địa phương chuyển hóa thành tiếng Nùng. Một hình thức hát Dzá Hai hoàn toàn mới, khác với lời hát nguyên gốc. Nó chuyển tải những nội dung phù hợp với hoàn cảnh hiện tại, của địa phương mình. Dzá Hai phát triển rầm rộ vào những năm sáu mươi, đầu thập kỷ bảy mươi. Hầu như huyện nào cũng có ít nhất vài ba đội. Sau năm 1979, hát tuồng Dzá Hai hoàn toàn ngưng hẳn.
Tôi từng được cắp cặp, tháp tùng ông đi khắp các nơi trong tỉnh để nghiên cứu, sưu tầm vốn văn hóa dân tộc truyền thống. Tới bất cứ đâu, ông cũng mang nụ cười đi trước, lời chào hỏi thưa gửi đi sau. Được ai mời rượu, ông chẳng từ. Nhưng chỉ nhấp môi cho phải phép. Xong bữa, đám trợ lý chuyên môn người mềm thừ như cháo. Ông chỉ cười, sẵn lòng ngồi đợi họ tỉnh rượu.
Có thể nói, ông là người ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa Tày, Nùng từ rất sớm. Không chỉ ở Cao Bằng, cứ đâu có người Tày, Nùng là ở đó người ta hát sli lượn, hát Dzá Hai. Người biết dạy người chưa biết. Người biết rồi còn muốn biết thêm. Ở làng Phja Hoong, quê mẹ của tôi, cũng có một đội tuồng Dzá Hai hẳn hoi. Ngày đó, tôi vừa mới lớn, nhưng đã biết các anh chị khổ công luyện tập dựng vở, mang đi biểu diễn khắp các huyện trong tỉnh. Mỗi lần đi diễn về, đội lại bắt đầu phân công ai viết kịch, ai dàn dựng, ai thiết kế mỹ thuật, ai may khâu trang phục cho vở mới. Hồi đó, khắp nơi rộn ràng như ngày hội. Các vở diễn, nhằm phô trương thanh thế đội tuồng Dzá Hai của địa phương mình. Đội Dzá Hai làng Phja Hoong nhiều diễn viên có thể hình đẹp, giọng hát nẩy và vang. Khá nhiều nhạc công trình diễn nhạc Dzá Hai hết sức điêu luyện và có hồn. Họ là những “nghệ sỹ” nông dân toàn tòng, chả được học hành, thế mà họ lưu danh suốt từ bấy đến giờ. Đấy là một điều lạ, khó có lời giải đáp.  
Mỗi khi nhắc lại những kỷ niệm vui buồn một thời, ông bật dậy như cây đàn. Rồi ông nói. Ông diễn tả bằng cả con người. Miệng hát. Mắt liếc. Tay chém. Chân đá nhẹ. Ông như ngọn lửa rừng rực cháy. Tình yêu Dzá Hai ở nơi ông, hầm hập tỏa sức nóng sang nhiều người khác. Căn phòng dành riêng cho Phó ty, lúc nào cũng chật cứng người đến góp chuyện. Họ là trợ lý nghệ thuật, là cán bộ xuất bản, thư viện, bảo tàng... Bọn chúng tôi từng ngồi nghe ông kể hàng giờ về chữ Tày Nùng cổ. Nhưng ngày nay thất truyền hết tất cả rồi. Chỉ còn người anh em Thái đen Thái trắng là còn giữ được, đó là hệ chữ mai căm. Mai căm là gì hả chú. Chữ hình con giun, hình giá đỗ ấy. À có phải là nó thuộc hệ Phạn ngữ không hả chú. Chính nó đấy. Hồi Pháp thuộc, tớ được đi theo ông cụ dạy học tận Sơn La, Lai Châu sang đến Nghĩa Lộ, Mường Lò. Vì thế tớ mới biết.
Bỗng ông chùng hẳn cả người xuống. Mớ tóc xoăn chìm vào miền xa thẳm. Hình như ông đang nhớ tiếc. Nỗi nhớ tiếc làm sắc mặt ông mờ đi một góc. Trước khi trở thành Phó ty, tôi không biết ông làm gì, ở ngành nào. Học vấn đến đâu, văn bằng tú tài hay cử nhân. Nhưng ai hỏi gì về văn hóa văn nghệ dân tộc Tày, Nùng, ông đều trả lời gẫy gọn, dễ hiểu. Đặc biệt, về lịch sử hình thành và phát triển của tỉnh Cao Bằng. Về các sự kiện và nhân vật lịch sử là người dân tộc thiểu số. Ông truy tìm đến tận cùng nguồn gốc. Chưa chắc chắn, ông chưa mở miệng nói. Ông có đầy đủ các luận cứ khoa học. Có nhân chứng vật chứng, để bảo vệ ý kiến. Không ai dễ gì bắt bẻ được ông.Vì thế, có nhiều nhà khoa học lịch sử, có tầm cỡ quốc gia, phải kính nể.
Ông là một người cả đời chuyên chú say mê lao động nghệ thuật. Nhưng chỉ ở mức đóng góp cho phong trào. Có người hỏi tại sao ông không làm gì ra tấm ra món để đời. Ông cười khì. Cái tạng của tôi nó ba xú ba tý thôi. Ba tý ba xú là gì tôi chưa kịp hỏi, chắc nó có nghĩa như hổ lốn, mỗi thứ một chút. Ông chưa bao giờ nói về mình. Lúc nào cũng xưng tớ với học trò hoặc đám cán bộ cấp dưới. Chưa bao giờ ông lớn tiếng với ai. Cả đời cống hiến, mà không hề đòi hỏi. Bây giờ nhìn thấy ông trên màn hình, tự nhiên tôi nghèn nghẹn.
Khi tôi viết câu chuyện về ông thì ông đã thành người thiên cổ. Đây chỉ là những nét chấm phá mờ nhạt. Nhưng với tình yêu văn hóa Tày, Nùng ở nơi ông, thì hiện lên rất rõ nét và nguyên khối. Biết bao tích chuyện từ thời thượng cổ và ngày nay, được ông làm sống lại, qua những làn điệu Dzá Hai da diết, làm nức lòng người xem.
Y Phương

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh