Bạn đang xem: Trang chủ » Giáo dục

Chuyện về những cô giáo vùng cao

Thứ tư 21/02/2018 07:00

“Cắm bản để dạy học” là công việc quen thuộc của các giáo viên miền núi, vùng cao. Nhưng phải đến thực tế, gặp gỡ và trò chuyện, chúng tôi mới hiểu hết những khó khăn của họ. Mỗi người một hoàn cảnh, cuộc sống gia đình và công tác chuyên môn, nhưng với tình yêu nghề, cảm thông với những thiệt thòi của học sinh vùng cao, họ vẫn kiên cường bám bản làng nơi heo hút để gieo những mầm xanh tri thức.

Cô giáo Đinh Thị Lang.
KHÓ KHĂN NHƯNG KHÔNG CHÙN BƯỚC
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo có 3 anh em tại xã Đức Xuân (Thạch An), từ nhỏ, cô giáo Đinh Thị Lang, giáo viên Trường Tiểu học Quang Trung (Hòa An) trải qua không biết bao nhiêu khổ cực. Bố mất từ năm 4 tuổi, là con gái duy nhất trong gia đình nên cô Lang phải giúp mẹ công việc gia đình, lo cho em út lập gia đình xong, đầu năm 1989 cô Lang mới lập gia đình và theo học tại Trường Trung cấp Sư phạm 12 + 2 Cao Bằng. Ra trường cuối năm 1990, cô nhận công tác tại Trường PTCS Tân Tiến, xã Canh Tân (Thạch An). Trường cách trung tâm xã mấy km, phải đi bộ nhưng không ngăn được quyết tâm của cô giáo trẻ mới vào nghề. 
Khó khăn chồng chất khó khăn, khi đứa con gái đầu lòng ra đời bị bại não, hai vợ chồng dồn hết tiền, vay thêm của anh em họ hàng đi khắp nơi chữa trị nhưng bệnh tình của cháu không khỏi. Năm 1999, cô Lang chuyển về công tác tại Trường Tiểu học Quang Trung (Hòa An). Năm 2005, cô Lang xung phong lên cắm bản tại Điểm trường Cộp My, một trong những điểm trường khó nhất huyện Hòa An cũng như toàn tỉnh. Cô Lang chia sẻ: Thời điểm đó, đường từ nhà đến UBND xã rất khó, nhiều đoạn phải gửi xe đi bộ. Nhưng leo đến Điểm trường Cộp My mới là gian nan. Cứ sáng thứ Hai, tôi dậy từ 5 giờ sáng để chuẩn bị đến trường. Để leo lên đến điểm trường phải mất 3 - 4 giờ. Khổ nhất là những ngày mưa rét, trời lạnh phải mặc thêm quần áo dày cho đỡ lạnh, nhưng leo núi mệt lại vã mồ hôi, đồ đạc mang theo, gồm: quần áo, đồ dùng dạy học, giáo án nên rất vất vả. Điểm trường làm bằng ván gỗ, mái lợp đơn sơ, không có điện, nước sạch. Vào mùa khô thiếu nước, các cô giáo phải nhờ người dân đi lấy nước tại các hố sâu xa trường, khi đem về phải để cả tuần cho bớt mùi hôi mới sử dụng được. Những ngày mưa, nằm ngủ tại phòng bán trú chỉ lo gió to tốc mái. Tại Điểm trường Cộp My, 100% học sinh là dân tộc Mông, các em thường xuyên bỏ học, các cô giáo phải đi bộ đến từng nhà vận động, tuyên truyền phụ huynh cho các em đến trường. Dù khó khăn, vất vả như vậy nhưng tôi chưa bao giờ có ý định bỏ nghề. 
Tận tâm với con chữ nơi đỉnh non cao mà lúc chồng mất, cô giáo Lang không thể về kịp. Hiện con gái cô đã gần 30 tuổi nhưng chỉ ngồi trên xe lăn, không tự sinh hoạt cá nhân, không ai chăm sóc, nhà trường đã chuyển cô Lang về giảng dạy tại trường chính. Với cô Lang, chặng đường mang con chữ về Cộp My tuy gập ghềnh, khó khăn nhưng mãi là kỷ niệm đẹp không bao giờ quên bởi được đứng trên bục giảng truyền đạt kiến thức cho các em học sinh nơi vùng cao khó khăn này là một niềm tự hào, giúp các em có kiến thức để vận dụng vào cuộc sống sau này, từng bước thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu.
CÔ GIÁO MẦM NON GẮN BÓ VỚI TRẺ VÙNG CAO
Sinh ra và lớn lên tại Thành phố, sau khi tốt nghiệp Trường Cao đẳng Sư phạm tỉnh năm 2008, cô giáo trẻ Mã Thị Quỳnh Nga nhận công tác tại Điểm trường Nặm Tăn, Trường Mầm non Vĩnh Phong (Bảo Lâm). Sau đó, cô Nga chuyển công tác qua nhiều điểm trường: Phiêng Vai, Phiêng Nà thuộc Trường Mầm non Vĩnh Phong. Cô Nga tâm sự: Từ nhỏ ở Thành phố nên tôi không tưởng tượng được đi dạy học tại vùng sâu, vùng xa lại vất vả đến thế. Thời điểm mới đi dạy nhiều hôm buồn quá ngồi khóc nhớ gia đình. Nhưng với lòng yêu nghề, mến trẻ tôi từng bước vượt qua và luôn nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ. 
Cô giáo Mã Thị Quỳnh Nga.
Phiêng Vai là điểm trường xa nhất của Trường Mầm non Vĩnh Phong, cách trường hơn 10 km. Những ngày trời mưa đường lầy lội đa số giáo viên phải đi bộ đến trường. Không có điện, sóng điện thoại, thiếu nước sinh hoạt thường xuyên. Lớp học đều tạm bợ, cơ sở vật chất thiếu thốn, thiếu đồ dùng, đồ chơi, trang thiết bị phục vụ việc dạy và học cho các cháu nên các cô giáo ở đây đều phải tự sáng tạo, làm đồ chơi cho trẻ để trẻ hứng thú khi đến lớp học. Học sinh lại chủ yếu là dân tộc Mông, Dao nên bất đồng về ngôn ngữ. Vừa nỗ lực chăm sóc, dạy dỗ trẻ vừa cố gắng học tiếng địa phương, tập quán của người dân để dễ trao đổi, tuyên truyền cho phụ huynh đưa con em đến trường đầy đủ. Dạy học tại vùng cao, nỗi ám ảnh nhất đối với cô vẫn là những ngày đông giá rét, khi nhìn thấy các em trong các bộ quần áo mỏng manh, trời lạnh cóng mà vẫn “chân trần” bước trên những phiến đá khúc khuỷu, ăn không đủ no, áo không đủ ấm mà cảm thấy thương xót vô cùng. Cô thường xuyên vận động cán bộ, giáo viên nhà trường và bạn bè ngoài Thành phố ủng hộ quần áo, đồ dùng học tập cho các em. 
Năm 2017, cô Nga chuyển về trường chính và giữ chức vụ Phó Hiệu trưởng Trường Mầm non Vĩnh Phong. Trường có trường chính và 8 điểm trường lẻ với 11 lớp, 176 học sinh, gần 70% học sinh là dân tộc Mông, Dao, hoàn cảnh gia đình khó khăn, thuộc diện hộ nghèo. Các điểm trường vẫn còn một số phòng học tạm làm bằng ván gỗ, mái lợp phibrô xi măng, chưa có điện, nước sạch. Trên cương vị lãnh đạo nhà trường, cô giáo Nga luôn kêu gọi học sinh đến trường, duy trì sỹ số học sinh và hướng dẫn giáo viên cách thức thực hiện đạt hiệu quả. Tâm sự về những vất vả của nghề giáo viên, cô Nga chân thành: Sau gần 10 năm gắn bó với nghề nuôi dạy trẻ, mình cảm thấy ngày càng yêu nghề, yêu trò, cảm thấy lựa chọn theo nghề của mình thật đúng đắn. 
HƠN 30 NĂM "GIEO CHỮ" Ở VÙNG CAO
Năm 1981, cô gái trẻ Nông Thúy Phương được tuyển đi dạy lớp 1 + 2 tại Trường cấp 1 + 2 Minh Khai, xã Minh Khai (Thạch An). Năm 1987, cô chuyển về dạy tại Trường cấp 1 + 2 Quang Trọng (nay là Trường Tiểu học Quang Trọng), xã Quang Trọng (Thạch An). Quang Trọng là xã vùng 3 còn nhiều khó khăn, địa bàn rộng nên Trường Tiểu học Quang Trọng có thời điểm có đến 7 phân trường. Nhiều phân trường khó phải đi bộ vài tiếng đồng hồ. Cô Phương cho biết: Nhiều năm trước, dạy học khó khăn, vất vả hơn bây giờ nhiều. Lương thấp, mấy tháng mới có lương một lần; trường học đều làm bằng tranh tre nứa lá, chưa có điện, nước... Thời điểm dạy học vất vả nhất với cô là dạy tại Điểm trường Pò Làng, Cốc Pheo, cách xã hơn 10 km, phải đi bộ 3 - 4 giờ mới đến trường. Mỗi lớp học chỉ có 5 - 10 học sinh, đa số là dân tộc Dao. Trường ở trên núi cao, không có nước, điện lưới. Buổi tối soạn giáo án phải buộc đèn pin trên đầu. Để làm tốt nhiệm vụ của mình đòi hỏi mỗi thầy cô giáo phải thực sự tâm huyết với nghề, kiên trì, nhẫn nại và phải gần dân, thương yêu học sinh như con mình mới thuyết phục được các em đến lớp và duy trì ổn định sỹ số lớp. Mặt khác, mỗi thầy cô làm nghĩa vụ cắm bản phải biết hoặc hiểu được tiếng bản địa và phong tục tập quán của đồng bào nơi mình công tác mới mong thực hiện được ước nguyện “gieo chữ” nơi vùng cao. 
Cô giáo Nông Thúy Phương.
Sau hơn 30 năm công tác với phần lớn thời gian đảm nhận nhiệm vụ dạy học ở các điểm trường khó, vài năm gần đây cô Phương chuyển về dạy học tại điểm trường Nà Mu, cách trường chính hơn 2 km. Những năm gần đây, 5 điểm trường của nhà trường được quỹ tài trợ "Ngôi trường ước mơ" xây dựng lớp học lắp ghép. Cô giáo Nông Thị Kim Cúc, Hiệu trưởng Trường Tiểu học Quang Trọng cho biết: Cô giáo Phương là một giáo viên tận tâm với sự nghiệp giáo dục. Cô luôn sẵn sàng, nhiệt tình nhận nhiệm vụ tại những điểm trường khó; là một giáo viên có chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm tốt, được đồng nghiệp, học sinh yêu mến. 
Những khó khăn, vất vả và nghị lực, tình yêu nghề của các giáo viên vùng cao không thể kể hết bằng lời. Sự tâm huyết đó góp phần tạo nên một thế hệ người vùng cao có tri thức để hy vọng về một tương lai tươi sáng hơn.     
Công Hải

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh