Bạn đang xem: Trang chủ » Ký - Phóng sự

Người Anh hùng của quê hương cách mạng

Thứ ba 09/02/2016 07:00

Đối với nhiều thế hệ người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ sinh ra sau chiến tranh, Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân La Văn Cầu đã trở thành một huyền thoại. Đầu xuân 2016, tôi may mắn được gặp gỡ ông tại nhà riêng ở ngõ 157, Tây Sơn (Hà Nội). Ở tuổi 84, Đại tá La Văn Cầu vẫn khoẻ mạnh, minh mẫn. Ông vui vẻ tiếp chuyện với nụ cười dung dị, thân thiện và giọng nói hiền hòa mang đậm âm điệu miền núi. Qua câu chuyện với ông, tôi hiểu thêm về những chiến công cũng như cuộc sống của người Anh hùng sinh ra và lớn lên trên quê hương cách mạng.

Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân La Văn Cầu (áo trắng ngoài cùng bên phải) cùng một số chiến sỹ thi đua yêu nước trong cuộc gặp gỡ Bác Hồ tại Chiến khu Việt Bắc năm 1951.
KÝ ỨC VỀ TRẬN CHIẾN SINH TỬ

Anh hùng La Văn Cầu tham gia bộ đội từ rất sớm, điều đó được hun đúc từ lòng căm thù giặc sâu sắc, bởi bố đẻ của ông bị Tây bắt đi làm phu xây dựng rồi bị bệnh và chết khi ông mới lên 3 tuổi. Năm 1948, thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, La Văn Cầu mới bước vào tuổi 16, đã khai tăng lên 18 tuổi để được vào bộ đội. Rời bản Lũng Liêng, xã Phong Nặm (Trùng Khánh), ông được biên chế vào Đại đội 671, Trung đoàn Cao - Bắc - Lạng thuộc Sư đoàn 316. Ông vượt qua nhiều khó khăn, vươn lên rèn luyện thành một chiến sỹ gương mẫu, lập được nhiều chiến công. Năm 1949, trong trận phục kích trên đường Bông Lau - Lũng Phầy (Cao Bằng), ông một mình tiêu diệt hơn 10 tên lính Pháp trên xe tăng địch. Ở tuổi đôi mươi, La Văn Cầu tham gia 25 trận đánh.

Trong câu chuyện, ông kể nhiều về trận đánh đồn Đông Khê trong Chiến dịch Biên giới năm 1950, bởi đó là trận đánh mà ông nhớ nhất - “trận đánh sinh tử” ông trực tiếp tham gia và để lại một phần thân thể nơi chiến trường. Ký ức về trận chiến đã xảy ra hơn 60 năm được ông kể lại một cách chi tiết như chuyện vừa hôm qua. Trên gương mặt đã in sâu vết hằn của thời gian ấy ánh lên biết bao hoài niệm, tự hào xen lẫn xúc động: Trước khi vào trận Đông Khê, cấp trên quán triệt đây là trận đánh hết sức quan trọng. Nó là trận đánh mở màn cho Chiến dịch Biên giới Thu - Đông năm 1950, nhằm tiêu diệt cụm cứ điểm Đông Khê, cô lập địch ở Cao Bằng, tạo điều kiện đánh viện binh địch trên quốc lộ 4. Tôi thuộc trung đội bộc phá gồm 25 người và được phân công làm tổ trưởng của một tổ 5 người, nhận nhiệm vụ hết sức đặc biệt là đánh những quả bộc phá đầu tiên phá hàng rào, lô cốt của địch để mở đường cho đồng đội tiến lên. Với nhiệm vụ khó khăn, hiểm nguy như vậy, những người lính ôm bộc phá chúng tôi được coi là “những cảm tử quân” và được toàn đơn vị làm lễ truy điệu sống trước khi ra trận. Cả đội đều là những thanh niên mới chỉ 18, 20 tuổi, nhưng tất cả chúng tôi sẵn sàng làm nhiệm vụ đó, sẵn sàng hy sinh.

Khoảng nửa đêm 17/9/1950, tôi được lệnh dùng bộc phá đánh vào lô cốt lớn. Khi đang ôm theo quả bộc phá 12 kg tiến đến cách lô cốt địch khoảng 10 m thì bị địch bắn trúng, ngất lịm đi, mê man. Lúc này tôi tưởng mình sẽ chết, hình ảnh những người thân bỗng chốc cứ lần lượt hiện lên trước mắt. May mắn, lát sau tôi tỉnh lại, tôi phát hiện đạn địch bắn trúng cổ tay phải và má xuyên sang hàm bên phải, gói bộc phá vẫn còn nguyên vẹn. Đồng đội xung quanh có đồng chí đã hy sinh, các đồng chí bị thương không ngừng cổ vũ “Các đồng chí ơi! Xông lên, hãy trả thù cho chúng tôi với!”. Lúc ấy, tôi nhớ lại 3 lời thề thiêng liêng cùng đồng đội thề trước khi ra trận: Thứ nhất, chiến đấu đến giọt máu cuối cùng, còn 1 người cũng chiến đấu. Thứ hai, đoàn kết, bảo vệ nhau, cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ. Thứ ba là nghiêm chỉnh chấp hành kỷ luật chiến trường, chính sách đối với tù hàng binh. Tôi tiếp tục vực dậy xông lên thì thấy bàn tay phải bị thương lủng lẳng, vướng vào mấy cột dây thép càng đau đớn, lúc đó vừa thấy đồng chí tiểu đội trưởng tiểu đội xung kích Nông Văn Thêu đang tiến lên. Tôi nhờ đồng chí chặt tay giúp. Đồng chí Thêu biết tôi là con một trong gia đình, ở nhà chỉ còn mẹ già, nên khuyên tôi về tuyến sau. Nhưng lúc đó chí khí tôi chiến đấu hừng hực, nhất định xông lên, đồng chí Thêu bèn dùng lưỡi lê Nhật (thu được của quân đội Tưởng Giới Thạch, Trung Quốc) thay cho dao sắc, không kê mà trực tiếp chặt 1 cái, rồi băng ca-rô qua loa để cầm máu. Đau lắm, nhưng cảm thấy đỡ vướng hơn, tôi tiếp tục nhằm thẳng lô cốt xông lên. Nhét được bộc phá vào lỗ châu mai, địch ở trong lại dùng nòng súng đẩy ra. Chỉ còn một tay nên tôi phải dùng ngực giữ lại. Cũng may quả bộc phá hình chữ nhật vừa khớp với lỗ châu mai nên nó mắc lại đó. Tôi sướng quá giật liền một lúc 2 kíp nổ rồi chạy xuống. Không biết chạy xa được bao nhiêu mét, chỉ nghe tiếng nổ dữ dội và sức bộc phá làm người tôi bắn đi rất xa, ngất đi một hồi. Khi tỉnh dậy, tôi thấy lô cốt địch đã cháy rừng rực, đồng đội xung phong tiến lên. Lúc ấy tôi sung sướng quên cả đau đớn, định lên phá tiếp lô cốt thứ 2, nhưng kiệt sức. Đồng chí Lý Văn Mưu, quê ở Quảng Uyên, cùng tổ bộc phá với tôi mới tiến lên, giật kịp nụ xoè từ khoảng cách xa vừa đủ để lúc ôm quả bộc phá đến lô cốt thứ 2 thì phát nổ... Nói đến đây, giọng ông trùng xuống: “Đồng chí Mưu hy sinh khi mới 18 tuổi, vừa vào bộ đội được 6 tháng. Còn đồng chí Thêu giúp tôi chặt tay cũng hy sinh trong trận này. Tôi vẫn còn may mắn lắm!”.

Khi trận đánh kết thúc, La Văn Cầu từ chối ngồi cáng cứu thương để nhường cho đồng đội. Ông tự băng rừng vượt núi về trạm xá. Lúc ấy cổ tay đã bị nhiễm trùng và hoại tử. Vì vậy, các bác sỹ phải cắt hết cả cánh tay mới cứu được mạng sống của ông. Trong đợt tổng kết Chiến dịch Biên giới, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã biểu dương chiến sỹ trẻ La Văn Cầu và gọi ông là “một trong những lá cờ đầu trong phong trào giết giặc lập công”.

BÌNH DỊ GIỮA ĐỜI THƯỜNG

Sau Chiến dịch Biên giới, người thanh niên mới 20 tuổi luôn khát khao được chiến đấu bảo vệ quê hương trở về cuộc sống với cánh tay phải đã mất và nhiều thương tật trên cơ thể. “Khi đối mặt với địch, tôi không sợ hiểm nguy, không màng cái chết xông lên, nhưng khi trận đánh kết thúc, quả thực nhìn cánh tay phải bị tháo đến bả vai cũng không khỏi bi quan. Không biết sẽ làm gì để kiếm sống, để phụng dưỡng mẹ già, lấy vợ, nuôi con…? Sau đó, tôi cùng một số chiến sỹ thi đua yêu nước vinh dự được lên Chiến khu Việt Bắc diện kiến Bác Hồ. Người đã động viên tôi “thương binh tàn nhưng không phế”. Điều đó giống như liều thuốc quý, là động lực tinh thần giúp tôi vững vàng hơn trước những khó khăn, trở ngại của cuộc sống sau này”.

Ông bắt đầu tập viết, tập làm việc bằng tay trái. Năm 1951, ông về công tác tại Tổng cục Chính trị, làm công tác tuyên truyền. Năm 1952, tại Đại hội Anh hùng chiến sỹ thi đua toàn quốc lần thứ nhất tổ chức ở huyện Phú Lương (Thái Nguyên), ông La Văn Cầu được phong tặng danh hiệu Anh hùng Quân đội. Ở đây ông đã gặp bà Trần Thị Thanh, ít hơn ông 4 tuổi, khi ấy cũng là đại biểu xuất sắc của giai cấp công nhân kháng chiến thuộc Nhà máy Giấy Đông Nam Nghệ An. Bằng tình yêu và sự đồng cảm, người con gái gốc Hà Nam ấy đã giúp người thương binh trẻ Anh hùng La Văn Cầu bớt nỗi mặc cảm, tự ti. Vượt qua trở ngại về khoảng cách, năm 1958, hai ông bà đến với nhau trong sự ủng hộ của tổ chức, có với nhau bốn người con là La Thị Hồng Mai, La Hồng Minh, La Hồng Anh, La Thị Hồng Điệp.

Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân La Văn Cầu giản dị giữa đời thường.
Ông La Văn Cầu được phong hàm Đại tá từ năm 1985 và được tặng Huân chương Quân công hạng nhì, hạng ba, Huân chương Kháng chiến hạng nhất. Ông từng là Ủy viên Trung ương MTTQ Việt Nam, Đại biểu Quốc hội 4 khóa. Ở cương vị nào ông cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ, đến tháng 8/1996 ông về hưu.

Hiện nay, các con ông đều đã trưởng thành, có việc làm ổn định ở Hà Nội và ở nước ngoài. Bản thân ông cũng luôn sống vui vẻ, lạc quan giữa đời thường. Vì thế trông ông toát lên sự nhanh nhẹn, hiên ngang của người lính. Ở tuổi ngoài 80, ông đã trải qua 3 cuộc phẫu thuật liên tiếp. Năm 80 tuổi, ông phát hiện bị bệnh tim (do ảnh hưởng từ sức ép của bộc phá khi tham gia chiến đấu), phải mổ và đeo máy trợ tim. Năm 81 tuổi, ông phải vào viện để mổ dạ dày. Một năm sau, ông lại một lần nữa lên bàn mổ phẫu thuật cắt ruột. Sức khoẻ phục hồi nhưng những vết mổ để lại vẫn đau đớn mỗi khi trái gió trở trời. Nói về những ca mổ của mình, ông chỉ cười xoà: Ngày trước còn nhờ bạn chặt tay cho khỏi vướng rồi bỏ mặc cơn đau ôm bộc phá 12 kg lao lên đánh nổ tung lô cốt Pháp được cơ mà. Những ca mổ này có gì đáng sợ?.

Giờ đây, ông vẫn duy trì thói quen dậy sớm mỗi sáng, quét tước sạch sẽ đường ngõ trong khu nhà. Ông luôn nghĩ và hành động để “không lúc nào được để mình trở thành một người thừa, phải luôn sống vui, sống khoẻ, sống có ích cho đời”.

QUÊ HƯƠNG LUÔN Ở TRONG TIM

Tôi không sao quên được niềm vui, sự hồ hởi trong giọng nói của Anh hùng La Văn Cầu khi lần đầu tiên tôi liên hệ hẹn phỏng vấn với ông qua điện thoại. Sau khi giới thiệu mình là phóng viên Báo Cao Bằng, ông đã nói ngay: “Ừ, người Cao Bằng à? Cao Bằng gạo trắng nước trong, quê hương cách mạng thành đồng Việt Nam. Cháu cứ đến! Ồng lúc nào cũng sẵn sàng đón tiếp”. Cách nói hồn hậu, gần gũi của người Cao Bằng và chất giọng đặc trưng của miền đất Trùng Khánh dường như vẫn còn vẹn nguyên ở vị Đại tá già. Để rồi đến khi gặp ông, nhìn nụ cười hiền hậu mà rạng rỡ mỗi khi nhắc về quê hương trên gương mặt ông, tôi càng thấu hiểu tình cảm mà ông dành cho “nơi chôn rau cắt rốn”.

Xa quê từ năm 1951, sau khi Chiến dịch Biên giới kết thúc, công tác xa nhà nên ông không có nhiều thời gian để về thăm quê. Sau này, gia đình lại định cư ở Hà Nội, có khi vài năm ông mới về thăm quê một lần. Thế nhưng, ông vẫn luôn theo dõi từng bước đổi thay, phát triển của Cao Bằng: “Nghe nói khu hành chính của tỉnh ta mới được xây dựng lại đẹp lắm! Thấy tỉnh ta có những công trình, hoạt động có ích, ông rất mừng. Cao Bằng là mảnh đất địa linh mà Bác Hồ đã chọn để làm căn cứ cách mạng, lại có truyền thống yêu nước, đấu tranh chống giặc ngoại xâm, đó là điều mỗi người con Cao Bằng dù đi đâu, về đâu vẫn luôn tự hào. Cái cây phải có lõi mới đứng được trước phong ba bão táp, giống như con người phải nhớ nguồn gốc, tôn trọng truyền thống dân tộc mình mới chiến đấu và chiến thắng được mọi kẻ thù. Dân tộc Việt Nam là vậy, nhân dân các dân tộc Cao Bằng chúng ta cũng vậy. Bây giờ ông chỉ mong muốn, tỉnh ta phát huy tinh thần đoàn kết, cùng nhau phát triển kinh tế, cùng nhau làm giàu cho gia đình và cho cộng đồng, để đồng bào dân tộc ta bớt nghèo, bớt khổ, để Cao Bằng xứng đáng là quê hương thứ hai của Bác Hồ”.

Anh hùng La Văn Cầu với lòng quả cảm phi thường trong trang sách thuở học trò của tôi cứ bước ra đời thực giản dị, chân thành như thế qua từng câu nói, từng hành động, nhưng cũng chính điều đó càng làm cho phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong ông toả sáng. Người Anh hùng vừa bước sang mùa xuân thứ 84 vẫn luôn nở nụ cười hồn hậu, lạc quan với cuộc đời...  
Quỳnh Trang

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh