Sáng mãi phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”

Thứ sáu 21/12/2018 06:00

Đóng góp công sức, trí tuệ và một phần xương máu vì nền độc lập, tự do và thống nhất của Tổ quốc, những cựu chiến binh trên quê hương cách mạng dù trực tiếp tham gia các cuộc kháng chiến bảo vệ đất nước hay làm nhiệm vụ trong thời bình đều phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, xứng đáng là tấm gương sáng để giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ học tập, noi theo.

Cựu chiến binh Đinh Văn Lưu giao lưu với khách nước ngoài đến thăm Di tích trại giam phi công Mỹ tại xóm Bó Dường, xã Vân Trình (Thạch An).

RỰC RỠ NHỮNG CHIẾN CÔNG
 Được gặp và trò chuyện với ông Long Hứa Ho, sinh năm 1938, ở xóm Bản Chang, xã Lương Thiện (Phục Hòa), chúng tôi không khỏi xúc động, tự hào. Tháng 2/1961, theo tiếng gọi của Tổ quốc, ông lên đường nhập ngũ. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về địa phương, ông công tác tại Ban quản trị Hợp tác xã Nông nghiệp Bản Chang.

Ông Long Hứa Ho (bên trái) đang ôn lại kỷ niệm với đồng đội.

Năm 1968, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn cam go, quyết liệt. Tháng 12/1968, ông tái ngũ và biên chế vào Đại đội 2, Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 66, Sư đoàn 10 thuộc mặt trận B3 trực tiếp tham gia chiến đấu tại chiến trường Tây Nguyên. Từ năm 1968 - 1975, ông tham gia tổng cộng 62 trận chiến. Ngược dòng thời gian, ông Long Hứa Ho nhớ lại: Trong tất cả các trận chiến, tôi không thể nào quên hai trận chiến khốc liệt tại Đắk Tô, Tân Cảnh (1972) và trận chiến tại Plei Kần (1973).
Đắk Tô - Tân Cảnh vốn là căn cứ quân sự mạnh nhất của quân Ngụy ở Bắc Tây Nguyên. Đầu năm 1972, địch bố trí ở đây 28 tiểu đoàn bộ binh, 6 tiểu đoàn pháo binh và 4 tiểu đoàn thiết giáp. Phần lớn lực lượng được bố trí ở dãy cao điểm phía Tây sông Pôkô, hình thành tuyến phòng ngự từ xa bảo vệ thị xã Kon Tum. Đúng 15 giờ ngày 23/4/1972, sau khi pháo binh Quân Giải phóng nã dồn dập pháo vào căn cứ Tân Cảnh, Trung đoàn 66 được lệnh tấn công nhằm phá tan căn cứ quân sự quan trọng của địch. Cuộc chiến diễn ra vô cùng cam go, khốc liệt bởi địch bố trí lực lượng và phòng thủ bằng 13 lớp hàng rào bao quanh căn cứ. Đến 11 giờ, ngày 24/4/1972, trận chiến mới kết thúc. Quân ta bắn rơi 8 máy bay, thu 9 xe tăng, 20 pháo 105 mm, gần 100 xe quân sự, hàng vạn quả pháo và toàn bộ phương tiện chiến tranh của địch, bắt sống 429 tù binh. Sau trận chiến này, Trung úy Long Hứa Ho được thăng hàm Thượng úy và được trao Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất.
Căn cứ Plei Kần được Mỹ xây dựng đặc biệt vững chắc nhằm chặn sự tiến công của bộ đội chủ lực của ta từ Bắc vào Nam và từ Lào, Campuchia sang. Mỗi cứ điểm đều có thể hoạt động độc lập và chi viện cho nhau. Đầu tháng 10/1972, nhằm mở rộng vùng giải phóng chuyển căn cứ xuống phía Đông và khai thông biên giới, Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên đã giao cho Sư đoàn 10 nhiệm vụ tiêu diệt cụm cứ điểm Plei Kần. Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt. Địch cho 57 máy bay bắn phá trận địa pháo của ta. Đến 18 giờ 30 ngày 12/10/1973, quân ta đã làm chủ toàn bộ khu trung tâm chỉ huy (khu A) của địch. Trung đoàn 66 và Tiểu đoàn 37 đặc công cùng toàn bộ pháo binh Sư đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc. Sau trận chiến này, ta tiêu diệt 404 tên, bắt sống 65 tên địch, bắn rơi 6 máy bay, thu 6 khẩu pháo 105mm, 2 khẩu pháo 155mm, 2 súng cối 106 mm, 4 xe tăng và toàn bộ kho vũ khí, đạn dược. Sau trận chiến, ông Long Hứa Ho được phong hàm Đại úy và được trao tặng Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhì. Từ chiến thắng vang dội của hai trận chiến, quân ta tiếp tục mở nhiều chiến dịch vào mặt trận phía Nam mà tiêu biểu là chiến thắng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975, kết thúc 30 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Sau giải phóng, Đại tá Long Hứa Ho đảm nhận nhiều vị trí quan trọng từ Sư đoàn phó đến Phó Chỉ huy trưởng quân sự Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Cao Bằng. Năm 1991, ông nghỉ hưu theo chế độ. Cùng với những chiến công, ông được Đảng, Nhà nước trao tặng nhiều danh hiệu cao quý, như: Huân chương Chiến công hạng nhất, nhì, ba; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, nhì; Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba.
GIỮ VỮNG TRUYỀN THỐNG, GÓP PHẦN XÂY DỰNG QUÊ HƯƠNG
Trong kháng chiến chống Mỹ, Nhà nước đã cho xây dựng khu trại giam phi công Mỹ (từ năm 1968 - 1972), tại xóm Bó Dường, xã Vân Trình (Thạch An). Hiện nay, nơi đây là một di tích lịch sử có giá trị, như một nhân chứng cho chiến tích lịch sử hào hùng của Việt Nam. Trong đó, ông Đinh Văn Lưu là một trong những cựu chiến binh trực tiếp tham gia xây dựng công trình quân sự này.

Cựu chiến binh Đinh Văn Lưu trao đổi với phóng viên Báo Cao Bằng.

Theo tiếng gọi của Tổ quốc, ông Lưu nhập ngũ tháng 12/1968 tại C3, công trường 60C thuộc Quân khu Việt Bắc. Ông Lưu hồi tưởng: Thời điểm đó, địa điểm xây dựng tại chính quê tôi và đây là một khu biệt lập, ba mặt là núi đá vôi bao bọc, phía trước là xóm Bó Dường. Ở đơn vị công binh, mọi người chia tổ tam tam, hằng ngày khai thác đá, cát, dùng xe công nông chở đến nơi tập kết và tiến hành xây dựng. Chế độ ăn uống của bộ đội bảo đảm nhưng yêu cầu kỷ luật nên không được về nhà và cũng không tiết lộ thông tin với gia đình, người dân địa phương.
Công trình gồm 10 dãy nhà được xây bằng đá hộc, có mái bằng bê tông, mỗi nhà dài 60 m, rộng 8 m được chia thành nhiều ô, mỗi ô đều có cửa ra vào riêng và có hai cửa gió, mỗi cửa gió có hai song sắt. Nhà có hành lang rộng chừng 80 cm chạy dọc từ đầu đến cuối nhà. Những ngôi nhà được chia tách từng nơi, cách nhau trên 20 m dưới những tán lá um tùm, rậm rạp của rừng nghiến. Xung quanh có tường bao và bốt gác.
Do yếu tố bí mật, nên ông Lưu không biết công trình xây dựng phục vụ mục đích gì. Bản thân ông sau này mới biết công trình quân sự mà ông từng được xây dựng là Trại giam giữ phi công Mỹ. Đến năm 1970, ông theo đơn vị hành quân vào chiến trường miền Nam, thuộc biên chế Sư đoàn 470, Đoàn 559. Được chứng kiến và trải qua những mốc son lịch sử, sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, với những thành tích đạt được trong công tác, năm 1986, ông được cử đi học tại Học viện Hậu cần. Sau đó ông về công tác tại Trung đoàn 529. Đến năm 1992, ông về hưu với cấp bậc Thiếu tá, Phó Chủ nhiệm kỹ thuật Trung đoàn.
Trở về đời thường, ông Lưu luôn phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” làm kinh tế gia đình và tham gia tích cực hoạt động xã hội tại địa phương. Hiện nay, nhiều đoàn du lịch trong nước và nước ngoài, trong đó có một số phi công Mỹ trước đây bị bắt giam tại đây có dịp trở lại đã đến gặp gỡ ông Lưu để tìm hiểu về quá trình xây dựng trại giam. Ông Lưu là một nhân chứng sống đã góp phần lưu giữ và phát huy giá trị một di tích trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước để giáo dục truyền thống cho các thế hệ mai sau.
 
NGƯỜI LÍNH VỚI NHỮNG CHIẾN CÔNG THẦM LẶNG
Khác với nhiều cựu chiến binh, ông Long Văn Thông, bệnh binh hạng 2/3, xóm Pác Rằng, xã Phúc Sen (Quảng Uyên) là cựu chiến binh không trực tiếp tham gia vào các trận chiến khốc liệt. Công việc của ông khi đó là trực tiếp nối và kiểm tra các đường dây cáp ngầm thông tin trong cống ngầm và dưới lòng sông sâu để đảm bảo liên lạc cho hai đầu chiến tuyến.
Tháng 6/1968, ông Thông lên đường nhập ngũ và được phân vào Đại đội 7, Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 132 thuộc Bộ Tư lệnh Thông tin liên lạc (nay là Bộ Tư lệnh binh chủng Thông tin liên lạc). Sau 6 tháng được cử tham gia lớp đào tạo thợ lặn, ông trở về đơn vị và trực tiếp tham gia đảm nhận công việc lặn sâu, thiết kế, kiểm tra đường dây cáp ngầm thông tin.

Cựu chiến binh Long Văn Thông chia sẻ kỷ niệm với thế hệ trẻ.

Năm 1971, Đại đội của ông nhận được lệnh kiểm tra và xây dựng đường dây cáp ngầm truyền dẫn thông tin dưới lòng sông Thạch Hãn (Quảng Trị). Đơn vị của ông có hơn 20 người, mỗi người làm một nhiệm vụ khác nhau. Vị trí sửa cáp ngầm mà ông phải hoàn thành nằm cách vị trí của quân địch khoảng chừng 2 km nên tất cả phải làm việc trong im lặng, nhanh gọn và đảm bảo an toàn bí mật. Cùng với tổ phục vụ, ông Thông khi đó giữ chức Đại đội phó chính trị, nhận nhiệm vụ ở trên thuyền quan sát đồng hồ áp suất. Khi tất cả đang tập trung làm việc thì thợ lặn báo cáo gặp vật lạ nghi là bom chưa nổ chèn lên đường dây cáp. Căng thẳng và lo lắng nhưng ông Thông cùng với Đại đội trưởng đã bàn bạc và đưa ra quyết định giữ bí mật với các đồng chí khác ở trên thuyền, quyết định thả dây xuống để cẩu vật nghi là bom lên khỏi mặt nước. Trong hoàn cảnh "ngàn cân treo sợi tóc", nếu vật được nghi là bom chưa nổ thật, thì toàn đội đều có nguy cơ hy sinh nhưng nếu không mang vật chèn lên đường dây cáp ngầm thông tin lên thì lại không thể hoàn thành nhiệm vụ. Khi dưới mặt nước xanh đục của lòng sông Thạch Hãn, một vật nặng chừng hơn 30 kg, đầu nhọn nhô lên khỏi mặt nước, ông Thông và Đại đội trưởng khi đó mới có thể nhẹ nhõm, biết đó là đạn pháo 75 mm chưa được kích nổ.
Năm 1984, ông Long Văn Thông giữ chức Đại đội trưởng Đại đội 7, Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 132. Một lần đơn vị nhận được lệnh kiểm tra đường dây cáp ngầm tại Ba Vì. Trong hoàn cảnh ngặt nghèo, nhiệm vụ lại vô cùng cấp bách, ông Thông vừa trực tiếp chỉ đạo giám sát ở trên, vừa hoàn thành công việc kiểm tra dây cáp ngầm dưới lòng sông. Trong lần hoạt động này, ông Long Văn Thông không may bị thương, màng nhĩ ở cả hai tai đều bị tổn thương nghiêm trọng. Năm 1985, vì lí do sức khỏe, ông Thông được nghỉ hưu theo chế độ bệnh binh. Mặc dù bệnh tật nhưng với sự tín nhiệm cao của cộng đồng, cựu chiến binh Long Văn Thông vẫn tiếp tục công tác tại quê hương và làm Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã Phúc Sen từ năm 1996 - 2001.

Nhóm Phóng viên

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh